Danh Sách 10 Vị Tướng Giỏi nhất thế giới.
1. Alexander Đại đế (356-323 TCN)
Alexander Đại đế |
2. Hannibal Barca (247-183)
| Hannibal Barca |
3. Julius Cesar (100 – 44)
| Julius Cesar |
4. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300)
| Trần Hưng Đạo |
Alexander Đại đế |
| Hannibal Barca |
| Julius Cesar |
| Trần Hưng Đạo |
Lịch sử nươc ta từ xưa đến nay có rất nhiều vị anh hùng dân tộc , và sau đây toàn thư giai thoại xin giới thiệu đến quý vị và các bạn một vị thiếu niên Anh Hùng Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản.
Trần Quốc Toản sinh năm 1267 ống ở thời kỳ trị vì của vua Trần Nhân Tông , ông là con của của Vũ Uy vương Trần Nhật Duy và bà Trần Ý Ninh. Trần Quốc Toản là cháu nội của vua Trần Thái Tông
Trần Quốc Toản sinh ra và lớn lên tại đất Tống và có rất nhiều bạn bè hoàng tộc nhà tống, Tương truyền thuở nhỏ, Trần Quốc Toản rất ham mê cung kiếm, thao luyện võ nghệ, học tập binh thư , là một thiếu niên tài giỏi nên rất được hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khen ngợi và chỉ bảo,
Trong gia tộc ông là 1 người con hiếu thảo dối với cha mẹ và cũng là một đấng thiếu niên được bạn bè và gia nô trong phủ quý trọng, Trước khi Trần quốc toản sinh ra Giặc Nguyên-Mông sang xâm lược nước ta và bị vua tôi nhà trần đánh bại , khi lớn lên mới 15 tuổi hiểu rõ mình là người trong gia tộc phải củng phải gánh vác 1 phần giang sơn xã tắc cho nên Trần Quốc toản thường cùng gia nhân trong nhà và các thanh thiếu niên trong vùng hay cùng nhau tập võ nghệ để khi có giạc ngoại xâm đúng lên bảo vệ giang sơn. Trần quốc toản ngoài việc giỏi võ nghệ ra ông có tài bắn cung siêu phàm ông thường cùng các bạn bè của ông thi bắn cung và ông luôn dành chiến thắng, ngoài võ nghệ giỏi ra trần quốc toản chịu sự ảnh hưởng từ Cha và mẹ và dược sự dạy dỗ của Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn nên các binh thư mưu lược ông cũng là người am hiểu và có tài.
2. Lá cờ Thêu sáu chữ Vàng '' Phá Cương Dịch Báo Hoàng Ân :
Tháng 10/1282 nghe tin giặc Nguyên-Mông lần thừ 2 chuẩn bị lực lượng kéo snag xâm lược nước ta thêm 1 lần nữa, Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Diên Hồng tại Bến Bình Than để bàn phương hướng kháng chiến và quyết định lực lượng để chống giặc.
Lúc này Trần Quốc Toản không thấy được mời nên tức giận , rồi cùng bạn Hoài Nhân Vương Trần Quốc Kiện cùng nhau đến bến Bình Than. Khi ông đến bên bình Than định lên thuyền rồng gặp vua, nhưng bị ngăn không cho vào , Quốc Toản gây chuyện mầ ỉ bên bờ sông, Vua Trần Nhân Tông biết chuyện ra hỏi và nói với Trần Quốc Toản là, ta biết con có lòng giúp nước nhưng tuổi còn nhỏ chưa đến tuổi bàn việc nước và ban cho 1 quả cam. Trần Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.
Sau đó, Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người các thanh thiếu niên trong vùng hơn 1000 người ngày đêm tập luyện võ nghệ, thao luyện trận pháp binh thư, Trần Quốc toản còn sai người lên rừng đốn gỗ đóng nhiều chiến thuyền , hiểu được tấm lòng tận trung yêu nước của ông nhiều thanh niên đến xin gia nhập vào đội của ông, ngày đêm sản xuất vũ khí thao luyện võ nghệ đóng chiến thuyền, thêu lên cờ sáu chữ: Phá cường địch, báo hoàng ân .
Một Hôm Vua Trần Nhân Tông gọi Trần Hưng Đạo đến và hỏi : Người thấy Hoài Văn Hầu như thế nào ? Trần Quốc Tuấn tâu : thưa bệ hạ, Quốc toản tuy còn nhỏ tuổi nhưng cậu ấy có tấm lòng can trung nghĩa dũng thật là đáng quý, Quốc Toản Văn Võ song toàn lại có lòng yêu nước đó là cái quý là bảo vật của quốc gia, là trụ cột của Đại việt ta sau này, bê hạ cứ để cậu ấy theo thần để rèn dũa thêm sau này chắc chắn sẽ là nhân tài ạ. Vua Nhân Tông nghe có lý bèn gật đầu .
Sau 2 Năm đội quân của Trần Quốc Toản mạnh lên trong thấy áo quần vũ khí chỉnh tề với hàng trăm chiến thuyền đã hoàn thành chỉ chờ ngày đánh Quân Nguyên.
Một Lần Trần Hưng Đạo đến thăm Trần Quốc Toản khi gần đến thao trường của Quốc Toản trần Hưng Đạo không tiên vào mà đứng từ xa nhìn vào thấy đội quân do Quốc toản Huấn luyện nhìn thấy Quốc Toản ra dáng một vị tướng quân dũng mãnh đúng chĩ huy cùng với các lá cờ thêu 6 chữ Phá cường địch, báo hoàng ân bay phấp phới , Ông mĩm cười mãn nguyện rồi quay đi.
Theo ghi chép của các tài liệu lịch sử thì Hoài Văn Hầu tử trận trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 năm 1285, tuy nhiên có nhiều giả thuyết gi lại , trần Quốc Toản không hề tử trận như sách sử nhầm lẫn, mà còn lập Mười ba chiến công uy vũ chấn động Trung Nguyên.
Sau đây chúng ta cùng điểm qua 13 chiến công oai hùng của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản
1. Trận Đâu Đỉnh, chặn đạo quân Nguyên dùng thượng đạo đánh úp Chi lăng. Quân Nguyên do Lý Hằng, Ô Mã Nhi chỉ huy
2. Trận đánh chặn không cho Mông Cổ chiếm Thăng Long, để quân dân trong thành Thăng Long kịp thời di tản
3. Trận cùng Chiêu Minh Vương cứu viện Chiêu Văn Vương ở Thanh Hóa.
4. Trận tái chiếm Trường Yên.
5. Trận Tây Kết oai hùng
6. Trận tái chiếm Thăng Long trong lần chống quân Nguyên thứ 2
7. Trận đánh bại và truy đuổi Thoát Hoan ở Như nguyệt (cùng Hưng Đạo Vương, Hưng Ninh Vương, Hoài Nhân Vương).
8. Trận Hàm Tử, giết chết Toa Đô.
9. Trận Bạch Đằng bắt Ô Mã Nhi.
10. Trợ giúp Chiêm Thành bắt gian vương Chiêm.
11. Đánh trận Hỏa giáp, phá đạo quân Sài Thung, bắt sống được Trần Di Ái
12. Cùng với Vũ Uy Vương đánh chặn Thoát Hoan ở phía Bắc.
13. Chiếm lại thành Thăng Long trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ ba.
Đặc biệt, Trần Quốc Toản khi mới 19 tuổi đã đánh bại và giết được danh tướng thiện chiến bậc nhất của quân Nguyên là Toa Đô tại cửa Hàm Tử. Trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ 3 năm 1288, tại trận Bạch Đằng, cũng chính Quốc Toản đã đánh danh tướng thiện chiến khác là Ô Mã Nhi rớt xuống sông, sau đó Đỗ Hành dùng câu liêm móc lên bắt sống Ô Mã Nhi.
Các gia phả của Hưng Nhượng Vương, Hưng Vũ Vương, gia phả của Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đều chép Trần Quốc Toản giết Toa Đô, bắt Ô Mã Nhi, đều là những chiến công oai hùng lúc đó.
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rẳng Trần Quốc Toản không hề tử trận mà còn lập được nhiều chiến công trông cuộc chiến chống Nguyên Mông lần hai và lần ba.
sau chiến thắng Mông Nguyên ,Trần Quốc Toản Được phong vương, và sự mất tích bí ẩn mà chưa có lời giải đáp, một số giả thuyết cho rằng Trần Quốc Toản cùng vợ là Công chúa triệu Hoa đã trở về lại đất tống sống ẩn dật . lịch sử đã trãi qua hơn mấy ngàn năm , nhiều góc khuất giờ chúng ta cũng không thể tìm hiểu rõ được, nhưng dù sao Trần Quốc toản luôn là tấm gương sáng ngời cho bao thế hệ người dân Việt Nam ta luôn tự hào và noi theo.
Cũng trong tác phẩm Văn Học Lịch sử nước ta của bác Hồ có viết bài thơ ca ngợi Trần Quốc Toản như sau
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Còn theo các bạn có ý kiến hay suy nghĩ gì về vị tướng Anh Hùng trẻ tuổi này, hãy để lại ý kiến dưới phần bình luận nhé.
Xin chào và hẹn gặp lại.
Soạn Thảo : Thái Hà
Võ Nguyên Giáp (tên khai sinh: Võ Giáp, bí danh: Văn) sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước. Ông học giỏi, sớm được cha mẹ giáo dục về lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược. Năm 1925-1926, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước ở Trường Quốc học Huế và tiếp thu tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1927, Võ Nguyên Giáp gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1929, ông cùng một số đồng chí cải tổ Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, một trong 3 tổ chức đảng hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Thời gian này, Võ Nguyên Giáp được tiếp xúc với các tài liệu tuyên truyền cách mạng và Chủ nghĩa Mác, trong đó có các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp.
Từ 1934-1940, Võ Nguyên Giáp dạy môn lịch sử ở Trường Trung học tư thục Thăng Long, viết báo tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên học sinh, đồng thời tiếp tục học Đại học luật và kinh tế.
Năm 1936, ông tham gia sáng lập và viết bài bằng tiếng Việt và tiếng Pháp cho các tờ báo của Đảng: Lao động, Tiếng nói chúng ta, Tiến lên, Thời báo Cờ Giải phóng; tham gia phong trào Đông Dương Đại hội và được bầu làm chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
Năm 1941, Võ Nguyên Giáp được giao phụ trách Ủy ban Quân sự của Tổng bộ Việt Minh, tham gia chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, xây dựng căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.
Tháng 12-1944, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp đọc Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với 34 cán bộ, chiến sĩ. Võ Nguyên Giáp được ủy nhiệm lãnh đạo chung, Hoàng Sâm làm Đội trưởng và Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Ngay sau ngày thành lập, Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy trận Phai Khắt - Nà Ngần (25 và 26-12-1944), mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu”, “đánh tiêu diệt gọn” của QĐND Việt Nam.
Võ Nguyên Giáp đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Từ 1945-1947, Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong Chính phủ liên hiệp lâm thời, Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Nổi bật là ngày 30-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh uỷ quyền cho Võ Nguyên Giáp làm Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, sau là Tổng tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy.
Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ cao cấp của quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng. Ngày 28-5-1948, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao quân hàm Đại tướng. Từ tháng 7-1948, ông được tái bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thay Tạ Quang Bửu. Tháng 2-1951, ông được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Trong Kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1945-1954), Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy các chiến dịch lớn: Chiến dịch Việt Bắc (7-10 đến 20-12-1947), Chiến dịch Biên Giới (16-9 đến 14-10-1950), Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25-12-1950 đến 17-1-1951), Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23-3 đến 7-4-1951), Chiến dịch Quang Trung (28-5 đến 20-6-1951), Chiến dịch Hòa Bình (10-12-1951 đến 25-2-1952), Chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952), Chiến dịch Thượng Lào (13-4 đến 3-5-1953), và đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3 đến 7-5-1954).
Trong thời kỳ này, Võ Nguyên Giáp đã kiến nghị để đưa ra những quyết sách đúng đắn và sáng tạo như: Tổ chức lại bộ đội theo hình thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung; thành lập đại đoàn chủ lực đầu tiên; đánh Đông Khê mà không đánh Cao Bằng trong Chiến dịch Biên Giới; mở chiến dịch đánh quân chủ lực cơ động của Pháp hành quân ra Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực ta luồn vào đánh sau lưng địch để phát triển chiến tranh du kích kiềm chế, tiêu hao tiêu diệt địch; mở Chiến dịch Tây Bắc, nơi địch sơ hở và địa hình có lợi để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đặc biệt là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ giành thắng lợi đưa đến việc ký kết hiệp nghị Geneva. Sự chỉ đạo, chỉ huy của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Kháng chiến chống Pháp.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, (1954-1975), khi quân Mỹ trực tiếp vào miền Nam, nhiều nước bạn bè khuyên Việt Nam bỏ ý định đối đầu trực tiếp với Mỹ nhưng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: Việt Nam sẽ thất bại nếu đánh theo kiểu chính quy của các nước lớn, nhưng người Việt Nam sẽ giành chiến thắng bằng cách đánh kiểu Việt Nam. Những kế hoạch chiến lược và phương án tác chiến của ông đã góp phần đánh bại các chiến lược của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.
Với tài thao lược về chiến lược, chiến dịch, hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao, Võ Nguyên Giáp là một trong những danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ, một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ 20.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên thật là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An trong một gia đình khoa bảng và giàu truyền thống yêu nước. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các phong trào đấu tranh đều bị dìm trong biển máu của kẻ thù; chính nhờ truyền thống yêu nước của quê hương, gia đình và các bậc cha ông đã hun đúc ý chí và tinh thần cho người thanh niên Hồ Tùng Mậu lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược, chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và quyết định ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Với sự hoạt động sôi nổi tại nước ngoài, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Đây là dấu mốc trọng đại trong lịch sử bởi từ đây con đường cách mạng Việt Nam đã có một tổ chức lãnh đạo, định hướng đúng đắn cho toàn thể dân tộc Việt Nam thực hiện mục tiêu độc lập, tự do.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ra đời, đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử của dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ những trở lực của phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối diện với những khó khăn chồng chất khi chính quyền còn non trẻ và hậu quả do chế độ cũ để lại, đặc biệt là nguy cơ “thù trong, giặc ngoài” đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Đầu tháng 9/1945, gần 30 vạn quân gồm quân đội Trung Hoa dân quốc, quân đội Anh và quân đội Pháp núp bóng tràn vào nước ta với nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật (1). Ngoài ra, Đảng và Chính phủ còn phải đối mặt với những thách thức lớn như “giặc đói” và “giặc dốt”. Rõ ràng, những khó khăn, thách thức tồn tại nêu trên đe dọa nghiêm trọng đến nền độc lập, tự do mà Đảng và nhân dân ta mới giành lại được; đặt chính quyền dân chủ nhân dân và vận mệnh dân tộc vào thế “nghìn cân treo sợi tóc”.
Trong hoàn cảnh đó, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã được Đảng, Nhà nước tin tưởng giao phó những nhiệm vụ, trọng trách quan trọng khi chính quyền cách mạng còn non trẻ.Với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú và ý chí kiên cường của một người chiến sỹ cộng sản, đồng chí đã có những đóng góp thiết thực trong việc xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng, góp phần không nhỏ trong công cuộc kiến thiết Tổ quốc thời kỳ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Ngày 28-8-1941, tại Hóc Môn (Gia Định), thực dân Pháp đã xử bắn năm cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Minh Khai.
| Nguyễn Văn Cừ |
Lúc đó, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng mới 29 tuổi.
Sớm giác ngộ cách mạng, 16 tuổi, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. 17 tuổi đồng chí được phân công ra hoạt động ở mỏ than Vàng Danh và xây dựng cơ sở Đảng ở đây. 19 tuổi, đồng chí bị thực dân Pháp bắt ở vùng mỏ. Ngày 13-5-1931, ba tháng sau ngày bị bắt, đồng chí bị đưa ra xử ở Hội đồng đề hình Hà Nội, kết án khổ sai chung thân và đầy đi Côn Đảo.
Ở Côn Đảo, để góp phần giáo dục tư tưởng, phổ biến đường lối và chỉ đạo đấu tranh, tờ báo Ý kiến chung ra đời. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một cây bút viết bài đều đặn. Ngoài tờ Ý kiến chung, ở khám 5, đồng chí Cừ còn chủ trì tập san Người tù đỏ.
Năm 1936, đồng chí được trả lại tự do. Bị đưa về quê quán, Nguyễn Văn Cừ tìm liên lạc với các đồng chí, tích cực hoạt động khôi phục cơ sở và hệ thống tổ chức của Đảng. Đầu năm 1937, đồng chí được bầu làm Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ; tháng 9-1937, được cử vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 3-1938 được bầu làm Tổng Bí thư. Năm đó đồng chí mới 26 tuổi.
Với cương vị Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Cừ đã có những cống hiến xuất sắc vào việc xây dựng, vận dụng quan điểm lý luận của Đảng ta về mặt trận dân chủ, về phòng thủ Đông Dương, chống chủ nghĩa phát xít, vạch mặt bọn tơ-rốt-kít, bọn cải lương, phân tích các khuynh hướng “tả” khuynh, “hữu” khuynh trong Đảng và ngoài Đảng lúc bấy giờ.
Dựa vào phong trào cách mạng của quần chúng đang phát triển mạnh mẽ ở trong nước và sự ủng hộ của nhân dân Pháp, đồng thời dựa vào đạo luật về tự do báo chí của nghị viện Pháp ban hành ngày 29-7-1881 đã trở thành cơ sở pháp lý ở Nam kỳ lúc đó, tháng 4-1938, hai đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Hà Huy Tập đã thay mặt Trung ương Đảng quyết định cho phát hành một tờ báo công khai bằng tiếng Việt, là cơ quan Trung ương của Đảng, lấy tên là Dân chúng, số 1 ra ngày 22-7-1938 không xin phép. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã trực tiếp chỉ đạo báo đó trong thời kỳ đầu và viết nhiều bài về các vấn đề lý luận và chính trị.
Dân chúng là tờ báo ra được nhiều số, đứng thứ ba trong toàn bộ lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam trước tháng 8-1945; là tờ báo được vinh dự đăng bài đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cho báo trong nước trong thời kỳ vận động dân chủ; là tờ báo in với số lượng cao nhất, có nhiều bạn đọc nhất trước Cách mạng tháng Tám 1945. (Trong hơn một năm tồn tại, Báo Dân chúng ra được tất cả 80 số, Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện lưu giữ trong kho quản lý hiện vật bộ sưu tập báo Dân chúng với 79 số. Để việc bảo quản sưu tập báo Dân chúng được tốt hơn, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là BTLSQG) cho in lại báo Dân chúng dưới dạng 3 tập sách. Tập I từ số 1 đến số 28 (thiếu số 14); tập II từ số 29 đến số 50; tập III từ số 51 đến số 80.)